Trong các doanh nghiệp mở rộng kinh doanh theo cơ chế hữu cơ (organic growth), khi dự án đầu tư đủ lớn hoặc đạt được điều kiện nào đó, nhà quản lý cần tách dự án ra khỏi doanh nghiệp hiện tại và dự án này chính thức được có một pháp nhân riêng. Mục đích của việc tách bạch này có nhiều nguyên nhân. Có thể để việc quản lý được rõ ràng hơn, cũng có thể là vì nhu cầu kêu gọi vốn đầu tư để mở rộng hoạt động. Việc chia tách thành nhiều doanh nghiệp chuyên sâu theo từng lĩnh vực là rất phổ biến ở Việt Nam. Ví dụ: nhiều tập đoàn đã phát triển các công ty con phụ trách từng mảng kinh doanh như: bất động sản dân dụng, môi giới, bán lẻ, y tế, giáo dục, dịch vụ giải trí, sản xuất xe, sản xuất điện thoại di động…
Trong quá trình đầu tư, việc đánh giá và kiểm soát tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là cực kỳ quan trọng. Những nhà đầu tư và quản lý luôn cần có các số liệu tổng hợp và theo nhóm ngành trong Báo cáo Tài chính Hợp nhất để có thể đánh giá được hoạt động của từng nhóm ngành và của toàn tập đoàn. Từ đây, họ có thể đưa ra quyết định phù hợp nhất. Những quyết định này có thể là: quyết định đầu tư hay thoái vốn, điều chuyển vốn trong tập đoàn, kêu gọi vốn từ bên ngoài, thanh lý tài sản, kết hợp sản xuất/kinh doanh giữa các mảng với nhau để tạo ra lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên, thông tin đáp ứng cho các số liệu này thường gặp rất nhiều khó khăn vì quá trình hợp nhất Báo cáo Tài chính.
Đặc biệt ở các công ty tại Việt Nam (bao gồm cả công ty niêm yết và không niêm yết), công việc hợp nhất Báo cáo Tài chính có sự hỗ trợ trực tiếp và kịp thời của các kiểm toán viên. Với kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm trong lĩnh vực hợp nhất Báo cáo Tài chính, các kiểm toán viên đã phát triển được kiến thức, hướng dẫn và quy trình chuyên nghiệp cho lĩnh vực này. Ngoài ra, việc hoạt động theo đội/nhóm với nhiều thành viên được phân công rõ ràng đã cải thiện đáng kể hiệu suất của công việc này. Tuy nhiên, kiểm toán viên chỉ hỗ trợ cho doanh nghiệp trong giai đoạn soạn thảo Báo cáo Tài chính cho kỳ kết thúc năm tài chính hoặc bán niên, còn Báo cáo Tài chính cho các giai đoạn khác đều được thực hiện hoàn toàn bởi bộ phận kế toán (hoặc tương đương) của doanh nghiệp.
Ở Việt Nam hiện nay, quá trình hợp nhất Báo cáo Tài chính đều hầu như được thực hiện thủ công qua từng bước. Giới hạn về nguồn lực thời gian và con người đã dẫn tới sự chậm trễ trong Báo cáo Tài chính ở mỗi cấp của Tập đoàn (thông thường quan hệ công ty mẹ - công ty con được phát triển thành nhiều cấp, với nhiều cấp công ty mẹ trung gian). Báo cáo Tài chính ở mỗi cấp cao hơn lại chịu ảnh hưởng vì sự chậm trễ của nhóm công ty cấp dưới. Và cuối cùng là sự chậm trễ trong việc cung cấp Báo cáo Tài chính Hợp nhất của toàn Tập đoàn. Cuối cùng, Báo cáo Tài chính Hợp nhất này cũng không kịp thời cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng khác, như: chủ sở hữu/nhà đầu tư, chủ nợ, cơ quan quản lý nhà nước, nhân viên, các nhóm có lợi ích liên quan…
Bên cạnh đó, không khó để có thể thấy chất lượng của Báo cáo Tài chính Hợp nhất được thực hiện bởi bộ phận kế toán của các doanh nghiệp là không đạt yêu cầu. Trên thực tế, hàng năm có rất nhiều doanh nghiệp niêm yết phải gửi công văn cho cơ quan quản lý giải trình về chênh lệch số liệu Báo cáo Tài chính Hợp nhất trước và sau kiểm toán. Bỏ qua các điều chỉnh khác của kiểm toán viên (ví dụ: liên quan đến lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, ghi nhận doanh thu không đúng niên độ hay việc trích trước các khoản chi phí trong năm), một lượng lớn chênh lệch xuất phát từ các điều chỉnh liên quan tới hợp nhất Báo cáo Tài chính, mà nguyên nhân sâu xa là từ sai sót trong quá trình hợp nhất Báo cáo Tài chính. Có thể ví dụ như: chưa loại trừ công nợ nội bộ, chưa loại trừ các giao dịch nội bộ, chưa xử lý các khoản dự phòng đầu tư cho các công ty trong tập đoàn…
Một số giải pháp cho vấn đề này đã được xét đến.
Một là doanh nghiệp có thể thuê công ty có chuyên môn trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, chi phí sẽ là tương đối lớn. Thêm nữa, việc kiểm soát quá trình thực hiện hợp nhất Báo cáo Tài chính sẽ phụ thuộc vào bên cung cấp dịch vụ.
Hai là tuyển dụng nhân viên có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thực hiện hợp nhất Báo cáo Tài chính. Thông thường, các doanh nghiệp chọn phương án thứ hai vì những ưu điểm của nó: lập kế hoạch và quản trị được thời gian thực hiện, kiểm soát được số liệu Báo cáo Tài chính trong nội bộ doanh nghiệp, nhà quản lý kịp thời ra quyết định từ Báo cáo Tài chính Hợp nhất.
Như vậy, việc cần làm của các doanh nghiệp là cải thiện chất lượng thực hiện hợp nhất Báo cáo Tài chính. Ngoài những kiến thức về hợp nhất Báo cáo Tài chính, cái thiếu của kế toán viên là kỹ năng và kinh nghiệm thực hiện hợp nhất. Đây là những mục tiêu mà Giáo trình này đề ra để đáp ứng cho các học viên.
Thông qua chương trình đào tạo này, học viên sẽ được:
1. Giới thiệu kiến thức về hợp nhất BCTC.
2. Thực hành hợp nhất thông qua ví dụ/bài tập thực tế kèm theo việc giới thiệu các công cụ hỗ trợ hợp nhất.
3. Các bài tập gồm nhiều loại giao dịch trong nội bộ Tập đoàn (mua bán hàng hoá, chia cổ tức, cho vay và tái cấu trúc tập đoàn).
Thay vì giới thiệu các định nghĩa và nguyên tắc, chương trình đưa ra lối lập luận một cách logic theo lý thuyết kế toán cơ bản. Từ những lập luận này, học viên có thể tự suy luận để hình dung được cách thức mà Báo cáo Tài chính Hợp nhất cần được thực hiện. Hơn nữa, học viên có thể áp dụng những suy luận này để tự kiểm tra kết quả của Báo cáo Tài chính Hợp nhất (Ví dụ: kiểm tra số dư của Lợi ích cổ đông không kiểm soát trên Bảng Cân đối Kế toán). Đây là điều rất cần thiết, đặc biệt với các Tập đoàn có mối quan hệ sở hữu phức tạp. Sau đó, bằng việc thực hành hợp nhất qua các ví dụ/bài tập ngay trong chương trình, học viên được áp dụng ngay những kiến thức mới học vào thực tiễn. Từ đó hình thành kỹ năng hợp nhất Báo cáo Tài chính mà đôi khi học viên chưa bao giờ thực hiện trên thực tế. Cuối cùng, nhờ sự đa dạng trong các ví dụ/bài tập hợp nhất và việc chia sẻ kinh nghiệm trong quá trình soạn thảo và kiểm toán Báo cáo Tài chính Hợp nhất, học viên sẽ đúc kết được kinh nghiệm hợp nhất cho bản thân để áp dụng vào công việc của mình.